Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

Phép đóan các sự việc trong năm theo Cửu Tinh

Phép đóan các sự việc trong năm theo Cửu Tinh Phép đóan các sự việc trong năm theo Cửu Tinh
Nhất bạch di chuyển tới hướng Khảm - có câu “Nhất bạch vi quan tinh tri ứng, chủ tể văn chương” có nghĩa là sao Nhất bạch là sao quan, chủ có điều vui trong văn chương, học hành thông minh, thuận lợi trong văn nghiệp .
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Khôn - Chủ là nữ giới nắm bắt quyền hành, người trong nhà dễ mắc về đường ruột và dạ dày.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Chấn - gia chủ phải chuyển nhà hoặc đi xa, tính tình tương đối thô bạo, ngang ngược.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Tốn - Chủ có danh tiếng được nhiều người biết tới nhờ vào phát minh sáng chế.
Nhất Bạch di chuyển đến cung giữa - Gia chủ bị thương hoặc bị bệnh.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Càn - Gia chủ thông minh tài trí, phát tài, gia đình làm ăn buôn bán nhỏ.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Đoài – Không khí gia đình vui vẻ huyên náo vì có chuyện lạ. Đương vận của Nhất Bạch là vận hoa đào, thất vận là kiếp đào hoa.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Cấn - Tài vận đều thịnh vượng, đặc biệt có nhiều ruộng đất, nhà cửa có chức có quyền.
Nhất Bạch di chuyển đến hướng Ly - Thuỷ hoả tương giao, gia chủ vui vẻ, gia đình cát khánh.

Phép đoán sự việc trong năm khi sao Nhị Hắc di chuyển đến 8 hướng.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Khảm - Những người trong nhà dễ mắc bệnh đường ruột và dạ dày, người phụ nữ nắm giữ chức quyền tài chính.
Nhị Hắc di chuyển tới hướng Khôn - Nhị Hắc chính là điềm báo về bệnh tật cơ thể của chủ mắc nhiều bệnh.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Chấn - Gia chủ gặp hoạ do những chuyện thị phi gây nên, bệnh tật liên miên như đau chân, bệnh về đường ruột.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Tốn - Gia chủ sức khoẻ kém, mắc các bệnh về đường hô hấp.
Nhị Hắc di chyển đến cung giữa - Gia chủ gặp họa, tai nạn chảy máu, mắc bệnh mãn tính.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Càn - Thất vận thì tinh thần suy sụp, hoảng loạn. Đương vận thì cát tài hưng vượng.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Đoài - hay đau ở vùng bụng, đề phòng hoả hoạn, tai nạn chảy máu.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Cấn - phát tài hưng vượng, đặc biệt là về nhà cửa đất đai sinh lợi.
Nhị Hắc di chuyển đến hướng Ly - Con cháu trong nhà mắc bệnh tâm thần, gặp hoạ chết người.
Phép đoán sự việc trong năm khi sao Tam Bích di chuyển đến 8 hướng
Tam Bích di chuyển đến hướng Khảm - Chủ tính khí thô bạo, ngang ngược, người thân bỏ đi hoặc đi xa.
Tam Bích di chuyển đến hướng Khôn - Gặp hoạ chốn quan trường, mắc các bệnh đường ruột, dạ dày và đau chân.
Tam Bích di chuyển đến hướng Chấn – Tam bích là suy vưu, gặp hoạ chốn quan trường do những chuyện thị phi tranh chấp gây ra.
Tam Bích di chuyển đến hướng Tốn - Khí vận thay đổi liên tục, lúc thịnh lúc suy.
Tam Bích đi chuyển đến cung giữa - Trong  phúc có hoạ, bị thương ở chân.
Tam Bích di chuyển đến hướng Càn - Có câu “Túc di kim nhi bàn san” là để chỉ gia chủ bị thương ở chân. Người trong nhà dễ nảy sinh tranh chấp kiện tụng.
Tam Bích di chuyển đến hướng Đoài - Gặp hoạ diệt vong, rước hoạ vào thân do giúp đỡ người khác.
Tam Bích di chuyển đến hướng Cấn - Bất lợi cho trẻ nhỏ.
Tam Bích di chuyển đến hướng Ly - Gia chủ thông minh tháo vát nhanh nhẹn.
Phép đoán sự việc trong năm khi sao Tứ Lục di chuyển 8 hướng.
Tứ Lục di chuyển tới hướng Khảm – Cung Khảm là cung sao Nhất Bạch làm chủ, do đó hướng này có lợi cho nghiệp học, con cháu đỗ đạt có chức tước.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Khôn - hay mắc các bệnh về đường ruột, bị những chuyện thị phi gây phiền hà mà sinh lo lắng đau thương.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Chấn, vận khí thay đổi thất thường lục thịnh lúc suy, tinh thần không ổn định.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Tốn - gia chủ thông minh nhanh nhẹn.
Tứ Lục di chuyển đến cung giữa - liên tục mắc các bệnh ngoài da, bệnh phong thấp.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Càn - Bất lợi cho gia chủ, người thân đi xa hoặc chuyển nhà đi chỗ khác.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Đoài - dễ bị thương do kim loại gây ra, dễ sinh chuyện đào hoa ong bướm.
Tứ Lục di chuyển đến hướng Cấn - không có lợi cho trẻ sơ sinh, mắc nhiều bệnh tật hoặc thành tích học tập giảm sút, dễ mắc bệnh về mũi .
Tứ Lục di chuyển đến hướng Ly - học hành thông minh, có chức quyền, gia đình hoà thuận ạnh phúc. Thất vận thì hao tốn tiền bạc.
Phán đoán sự việc trong năm khi sao Ngũ hành di chuyển đến 8 hướng.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Khảm – gia chủ bi thương bệnh tật, đề phòng những bệnh về đường tiết niệu. Nữ giới đề phòng mắc bệnh phụ khoa
Ngũ hành di chuyển đến hướng Khôn – hay mắc bệnh cấp tính, gặp hoạ diệt vong.
Ngũ hành đi chuyển đến hướng Chấn - dễ bị thương ở chân, đề phòng trong phú có hoạ.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Tốn - gặp nhiều tai hoạ rủi ro như bệnh ngoài da, bệnh lở loét do nhiễm độc.
Ngũ hành di chuyển đến cung giữa - gặp hoạ diệt vong, hay mắc bệnh ngoài da do truyền nhiễm.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Càn - có bệnh về não, đề phòng đi xa gặp nhiều khó khăn trở ngại, cơ thể mắc nhiều bệnh.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Đoài - gặp hoạ chốn quan trường, dễ bị chuyện thị phi gây phiền hà, dễ bị thương do kim lọa gây ra.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Cấn - hay mắc bệnh về đường ruột và dạ dầy, vận khí gặp nhiều trắc trở.
Ngũ hành di chuyển đến hướng Ly - Mắc bệnh về mắt, gặp hoạ chết người.
Phán đoán sự việc trong năm khi sao Lục Bạch di chuyển đến 8 hướng.
Lục bạch di chuyển đến hướng Khảm - thồn minh tài trí, phát tài nhờ vào việc buôn bán nhỏ.
Lục Bạch di chuyển vào hướng Khôn - tư tưởng lệch lạc, tinh thần suy sụp. Đương vận thì phát tài hưng thịnh.
Lục Bạch di chuyển đến hướng Chấn - hay bị đau chân, đề phòng tiểu nhân.
Lục Bạch di chuyển đến hướng Tốn - Nữ gặp hoạ, làm ăn vất vả, bôn ba khắp nơi.
Lục Bạch di chuyển đến cung giữa - Đề phòng đi xa gặp nhiều trắc trở, hay đau chân.
Lục Bạch di chuyển đến hướng Càn - có xu hướng chuyển nhà, có lúc đi xa.
Thất vận thì chủ gặp hoạ trên chốn quan trường, đề phòng những chuyện thị phi, hay tai nạn giao thông.
Lục Bạch di chuyển đến hướng Đoài - đề phòng bị thương do kim loại gây ra.
Lục Bạch di chuyển đến hướng Cấn - Phát tài nhờ buôn bán nhỏ, có thêm ruộng đất, tiền của dồi dào, nghề nghiệp liên quan tới kim loại.
Lục Bạch di chuyển tới hướng Ly - Con cái dễ mâu thuẫn với cha mẹ, đề phòng nhiễm các bệnh về đường hô hấp.
Thất Xích di chuyển đến hướng Khảm - Gia cảnh huyên náo, hoà hợp, gặp vận đào hoa.
Thất Xích di chuyển đến hướng Khôn - Tai nạn liên miên, đề phòng hoả hoạn, hoạ chết người, đề phòng bệnh tật.
Thất Xích di chuyển đến hướng Chấn - gặp hoạ chết người, rước hoạ vào thân khi giúp đỡ người khác. Thất vận thì phá sản nhưng được hoá giải nhờ bạn bè giúp đỡ.
Thất Xích di chuyển đến hướng Tốn - Dễ bị thương do kim loại gây ra, dễ gặp kiếp đào hoa.
Thất Xích đi chuyển đến cung giữa - Gặp hoạ trên trốn quan trường do những chuyện thị phi gây ra thương tích cho giá chủ. Gặp hoạ bài xích lẫn nhau trên chốn quan trường hay gặp hoạ tai nạn giao thông.
Thất Xích di chuyển đến hướng Đoài - Đương vận thì phát tài hưng thịnh, Thất vận thì gặp họa chết người, bệnh tật.
Thất Xích di chuyển đến hướng Càn - Tiền của dồi dào nhưng rất dễ bị mất mát hao tổn.
Thất Xích di chuyển đến hướng Ly - Đề phòng hoả hoạn, nữ giới trong nhà bất hoà, mâu thuẫn.
Phán đoán sự việc trong năm khi sao Bát Bạch di chuyển đến 8 hướng.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Khảm - Tài vận hưng thịnh, có thêm nhiều của cải vật chất, con đường công danh rộng mở với người cao chứa trọng.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Khôn - Có thêm nhiều ruộng đất, tiền tài, gia đình thịnh vượng, đại cát đại lợi.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Chấn - Bất lợi cho trẻ nhỏ, thành tích giám sát thục lùi.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Tốn - Con cháu mắc nhiều bệnh tật hoặc là thành tích yếu kém,hay bị bệnh ở mũi v.v…
Bát Bạch di chuyển đến cung giữa - Chủ nhà khi khí vận nhiều trắc trở, người thân hay mắc bệnh về đường ruột và dạ dày.
Bát bạch di chuyển đến hướng Càn - Gặp thời thế phát tài, có thêm nhiều ruộng đất, phú quý hoặc là ngành nghề có liên quan đến kim loại.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Đoài - Phát tài nhờ vào vải vóc, lụa là, gia đình cát khánh, nhưng lại dễ bị tán tài.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Cấn - Đương vận thì đại cát đại lợi, gia trạch hưng thịnh, có thêm nhiều ruộng đất, tiền tài. Thất vận thì phá sản, mất tiền mất của.
Bát Bạch di chuyển đến hướng Ly - Gia đình cát khánh có nhiều niềm vui.;
Cửu Tử di chuyển đến hướng Khảm - Tai qua nạn khỏi, gia đình sự nghiệp cát khánh, thuận lợi.
Cửu Tử di chuyển đến hướng Khôn - Con cháu dễ mắc bệnh tâm thần, thành tích của con cái giảm sút.
Cửu Tử di chuyển đến hướng Chấn - Con cháu trong nhà hoặc gia chủ thông minh nhanh nhẹn, học hành giỏi giang.
Cửu Tử di chuyển đến hướng Tốn - Cát lợi, thông minh giỏi giang trong nghiệp học, có chức có quyền nhưng liên quan đến văn chương, gia đình hạnh phúc, có chuyện vui.
Cửu Tử di chuyển đến cung giữa - Gặp hoạ như bệnh tật về mắt, bệnh ngoài da, hoạ chết người. . . bách sự hung.
Cửu Tử di chuyển đến hướng Càn - Dễ nảy sinh tranh chấp kiện tụng giữa con cháu và gia chủ, đề phòng các bệnh về đường hô hấp.
Cửu Tử đi chuyển đến hướng Đoài - Cẩn thận kẻo xảy ra hoả hoạn, nữ giới trong nhà bất hoà, mâu thuẫn.
Cửu Tử di" chuyển đến hướng Cấn - Gia đình cát khánh, gặp nhiều chuyện vui khiến mọi người trong nhà đều vui vẻ như nhà có hỷ sự, hoặc có người đem tiền của đến cho hoặc có tiền của bằng con đường bất chính.
Cửu Tử di chuyển đến hướng Ly - Đương vận cát lợi, chủ về tài vận và sự nghiệp đều thuận buồm xuôi gió. Thất vận thì gia chủ gặp hoả chết người.

Trong ngũ hành song sơn đã phân ra 24 sơn ra làm 12 nhóm sau: Nhâm Tý (Tý), Quý Sửu (Sửu), Cấn Dần (Dần), Giáp Mão (Mão), ất Thìn (Thân), Tốn Tỵ(Tỵ), Bính Ngọ (Ngọ), Đinh Mùi (Mùi), Khảm Thân (Thân), Canh Dậu (Dậu), Tân Tuất (Tuất), Càn Hợi (Hợi) .


Hậu thiên bát quái

Dụng thần Tứ trụ và Phong thủy


Có một vấn đề, và là một thực tế mà Tân Thủy mong được chia sẻ :
Dụng thần của tử bình ứng dụng rất tốt trong các lĩnh vực hoạt động như chọn nghề nghiệp , trang phục, trang sức , năm cát hỷ ...tuy nhiên, khi ứng dụng vào phong thủy, riêng Tôi sau một thời gian thấy không hẳn như vậy.
Phong thủy xét theo cung Phi, ví dụ như Tôi dụng thần là Kim nhưng theo phong thủy mạng là Chấn , nên cách bài trí ngôi nhà phải theo cách lấy Chấn là căn cứ xem xét. Vậy hướng Tây kim là tuyệt mạng ( tất nhiên vẫn có sơn hoan lạc vv..) , mà hướng Nam hỏa vốn kỵ Kim cũng lại là vượng tráng vv..Sau Khi chuyển hướng nhà sang Tây , Tôi thấy có một số vấn đề , chủ yếu về thể lực , tuy không nghiêm trọng nhưng khó chịu.Sau khi chuyển lại hướng theo Phong thủy và bài trí lại một số đồ vật _ có hướng dẫn _ thì các vấn đề gần như biến mất ngay , mặc dù đó là vẫn chưa làm lễ khai quang một linh vật nào.
Thực sự thì giữa Tử vi và Tử bình đã có khác biệt .Nhưng dường như sang Phong thủy học thì sự khác biệt còn lớn hơn ?

Sau một thời gian, thì Tôi có thể khẳng định là việc đặt hướng lại không theo tính chất dụng thần đã có hiệu quả tốt rõ rệt. sức mạnh của phong thủy hẳn là theo một qui luật của riêng môn này .tìm ra cung hưng phúc trong căn nhà cũng như tìm ra dụng thần chăng. Âu cũng là thông tin phần nào hữu dụng với các bạn ghé qua .

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Lăng Hoàng gia Gò Công Quê Hương Tôi

Lăng Hoàng gia Gò Công và những bí ẩn lịch sử

Gò Công (Tiền Giang) có các địa danh lịch sử nổi tiếng đó là lăng Hoàng gia, đền thờ Trương Định và ao Trường Đua… Nếu chưa đến hết 3 nơi đó thì coi như chưa biết Gò Công.

Lăng Hoàng gia là nơi thờ tự và lăng mộ của dòng họ Phạm Đăng, trong đó có ông Phạm Đăng Hưng là ông ngoại Vua Tự Đức, thân sinh bà Thái hậu Từ Dụ (dân gian gọi Từ Dũ), vợ vua Thiệu Trị. Nơi đây lưu truyền huyền thoại Gò Sơn Qui, lưu truyền văn bia kỳ lạ lưu lạc trên 140 năm…
 
Những phù điêu trang trí theo phong cách phương Tây trước mộ ông Phạm Đăng Hưng.
 
Phạm Đăng Hưng - một nhà tư tưởng của triều Nguyễn
 
Lăng Hoàng gia được xây dựng năm 1926, là lăng mộ và đền thờ ông Phạm Đăng Hưng. Ông Phạm Đăng Hưng sinh ra tại Gò Sơn Qui, vào năm 1764 (nay là ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, TX Gò Công - Tiền Giang). Ông là người thông minh, văn võ song toàn. Năm 1784, lúc 20 tuổi, ông thi đỗ Tam trường, nổi tiếng hiền đức và siêng năng.
 
Ông có 4 người con làm quan to trong triều Nguyễn. Vua Minh Mạng kết thông gia gả công chúa cho con trai ông là Phạm Đăng Thuật và phong chức Phò mã Đô úy. Vua Minh Mạng cũng cưới con gái của ông là Phạm Thị Hằng (sinh năm 1810, tức bà Từ Dũ sau này) cho Hoàng tử Miên Tông, sau này là vua Thiệu Trị.
 
Mùa hạ năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng mất, được đưa về Gò Sơn Qui chôn cất. Năm 1849, ông được vua Tự Đức truy phong Đức Quốc công.
 
Theo văn bia truy tặng Đức Quốc công của vua Tự Đức ban, do Phan Thanh Giản soạn, kể lại sự nghiệp của ông có đoạn: “Ông sơ của ông là Phạm Đăng Khoa, là người học rộng có tiếng văn chương thời Lê Anh Tông (1557- 1571). Họ Trịnh ức hiếp vua Lê, gặp lúc Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa dựng nghiệp, ông Phạm Đăng Khoa đem cả họ vào theo. Ban đầu ở Ái Tử (Quảng Trị, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi thành Cựu Dinh, Phú Xuân đổi thành Chính Dinh), sau dời vào Phú Xuân (Huế). Ông cố của Phạm Đăng Hưng là Phạm Đăng Tiên được bổ làm Huấn đạo, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) nhân đó dời nhà vào Mỹ Khê. Ông nội ông là Phạm Đăng Dinh thông thạo nho học và y học, lấy hiệu là Huyền Thông Đạo nhân. Cha ông là Phạm Đăng Long, địa phương gọi ông là Kiến Hòa tiên sinh”.
 
Cũng theo văn bia trên, Phạm Đăng Hưng sinh ra và lớn lên vào lúc Nguyễn Phúc Ánh khởi nghiệp ở đất Gia Định để đánh lại Tây Sơn. Ông thừa hưởng sự giáo dục của hai người thầy đất Nam Bộ là Nguyễn Bảo Trí và Võ Trường Toản. Năm Bính Thìn 1796, ông đỗ Tam trường, được bổ làm lễ sinh ở phủ Gia Định.
 
Sau khi Gia Long lên ngôi, ông được bổ nhiệm làm trường đà (coi thuyền vận tải) từ Nam ra kinh đô Phú Xuân.
 
Cuối đời, ông được thăng lên tới Thượng thư bộ Lễ, coi việc khâm thiên giám. Ông là người giúp vua Gia Long, Minh Mạng nghiên cứu các điển lệ đưa về gần với bản gốc đời Lê, trong lúc hơn trăm năm loạn lạc đã bị sai lệch.
 
Ông là người nghiên cứu Tiên Nho (Khổng Tử, Mạnh Tử), Chân Đức Tú - một học trò xuất sắc của Chu Hy đời Tống để tổng hợp nên một nền Nho học riêng cho triều Nguyễn: kết hợp Tiên Nho với Tống Nho làm nền tảng tư tưởng. Ông là người khởi xướng một số bộ sách có giá trị thời Nguyễn. Ngày 14-6 năm Ất Dậu (tức 29-7-1825), ông mất vì bệnh tại Huế, thọ 60 tuổi.
 
Ông được Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức phong tặng nhiều danh hiệu.
 
Huyền thoại dòng họ Phạm Đăng
 
Dân gian Nam Bộ còn có nhiều câu chuyện truyền miệng về “ông Ba Bị”. Chuyện kể rằng, thời mở đất, dân gian thường thấy một người luôn mang trong mình ba cái bị lớn (giống như bao tải nhưng có quai đeo bên mình). Con nít khóc dỗ không nín người ta thường nói: “Ngủ đi! Ông Ba Bị tới kìa!” Ông Ba Bị đi đến đâu thì con nít sợ lắm. Người lớn thì ngược lại, bởi ông mang đủ loại hạt giống đi phát cho dân và hướng dẫn cách trồng. Nhà nào quá nghèo, ông Ba Bị cho người mang gạo đến giúp.
 
Người Gò Công kể rằng, ông Phạm Đăng Long tức Kiến Hòa tiên sinh, cha ông Phạm Đăng Hưng là người giỏi Nho học, tinh thông phong thủy, địa lý của Lão học, đi nhiều nơi tìm thế đất tốt để định cư, mong con cháu phát tích.
 
Lúc ông đến Gò Rùa (Sơn Qui), thấy thế đất rất đẹp nhưng toàn vùng Gò Công lúc bấy giờ không có chỗ nào đào được giếng có nước ngọt. Sau đó ông phát hiện ra mạch nước ngầm ở Gò Sơn Qui. Ông quy tập mồ mả 3 đời về đây và xây nhà ở gò đất này.
 
Sau đó, ông sinh ra Phạm Đăng Hưng. Tương truyền trước khi sinh bà Phạm Thị Hằng (Từ Dũ) thì có một vầng trăng chiếu sáng lòa cả Gò Sơn Qui, nên bà ông Đăng Hưng đặt cho bà tên Hằng. Hiện nay, tại lăng Hoàng Gia, phía sau nhà thờ, nơi nền nhà xưa vẫn còn cái giếng cổ, nước trong vắt và ngọt lịm. Trong cuốn sách cổ “Từ Dụ - Hoàng Thái hậu truyện” của soạn giả Nguyễn Liên Phong in năm 1913 có hai câu:
 
Lộ thủy trình tường ngoại
 
Quy khâu trúc phước cơ
 
Tạm dịch là:
 
Nước ngọt điềm lành ngoại
 
Gò Rùa mọc phước cơ
 
Ly kỳ chuyện tấm bia vua Tự Đức ban cho ông ngoại
 
Đến thăm mộ ông Phạm Đăng Hưng, từ ngoài bước vào, du khách sẽ bắt gặp bên trái có một nhà bia. Bên dưới là tấm bia bằng đá trắng Quảng Nam, đã mòn theo thời gian, nhưng thật kỳ lạ: phía trên có hình cây thánh giá màu đen, bên dưới là dòng chữ Pháp ghi “Đây là nơi an nghỉ của Trung úy Barbé”. Nhìn sâu vào trong là một bài văn bia chi chít chữ Hán?
 
Tấm bia lưu lạc 140 năm.
 
Bia đá này do Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng soạn vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) nhằm ca ngợi công đức của Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng. Vua Tự Đức sai chở bằng thuyền từ Huế vô Gò Công. Nhưng cái bia đá mất tích một cách bí hiểm. Đến lúc trùng tu lăng Hoàng gia, năm 1899, vua Thành Thái cho dựng nhà bia bên phải (từ ngoài nhìn vào) bằng đá hoa cương. Nội dung tấm bia này giống y tấm bia Tự Đức ban cho ông ngoại.
 
Chuyện kể rằng, lúc giải tỏa nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi (quận 1- TP Hồ Chí Minh) để xây dựng Công viên Lê Văn Tám (khoảng 1983- 1986), người ta thấy còn sót lại một tấm bia đá bỏ chỏng chơ. Có người phát hiện hàng chữ Nho sau hàng chữ Pháp mới báo với Bảo tàng Thành phố. Khi các nhà nghiên cứu giám định mới té ngửa là tấm bia ấy là của vua Tự Đức ban tặng cho ông ngoại Phạm Đăng Hưng.
 
Trong tác phẩm “Scènes de la vie Annamite” (NXB P.Ollendorff Paris 1884) của 2 tác giả Le Vardier và De Maubryan có kể lại chuyện tình éo le của viên Trung úy Barbé với cô gái Bến Nghé tên Thị Ba, người của nghĩa quân Trương Định.
 
Cô gái hẹn Trung úy Barbé ở đồn chùa Khải Tường (nay là Bảo tàng Cách mạng) đến đồn chùa Ô Ma (Pagode des Mares - Thị Nghè) vào đêm 7/12/1860. Trên đường đi, Barbé đã bị nghĩa quân Trương Định phục kích bất ngờ giết chết. Câu chuyện tình này đời nay được tái hiện trong vở cải lương nổi tiếng ở Nam Bộ có tên “Nàng Hai Bến Nghé” với diễn xuất tài năng của nữ nghệ sĩ Mỹ Châu.
 
Liên kết các sự kiện, chính Barbé cướp tấm bia vào năm 1858 về đồn và 2 năm sau y chết, người ta lấy tấm bia ấy làm bia mộ cho y. Đến khi nghĩa trang giải tỏa mới phát hiện ra và năm 1998, Bảo tàng TP Hồ Chí Minh mới tặng lại Khu di tích Lăng Hoàng gia. Đúng 140 năm sau tấm bia mới được đặt đúng vị trí của nó.
 
Lăng mộ hoàng gia, một công trình kiến trúc độc đáo
 
Lăng mộ Hoàng gia được xây dựng từ năm 1826, do ông Phạm Đăng Tá - con trai trưởng của Phạm Đăng Hưng - xây dựng trên phần đất 3.000 m2, ngay trên nền nhà cũ của dòng họ Phạm Đăng.
 
Các nghệ nhân tài hoa bậc nhất chuyên xây dựng lăng tẩm, cung đình từ Huế vào và nghệ nhân địa phương xây dựng nên công trình kiến trúc độc đáo mang đậm phong cách cung đình. Năm 1849, vua Tự Đức truy phong Phạm Đăng Hưng lên tước Đức Quốc công, cho trùng tu, mở rộng nhà thờ, xây thêm tam cấp, cổng tam quan, ban thần vị theo nghi thức cung đình:
 
- Gian chính giữa thờ Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng.
 
- Gian tả thờ Phước An hầu Phạm Đăng Long là cha của Phạm Đăng Hưng.
 
- Gian tả ngoài cùng thờ Khả tự Phạm Đăng Tiên.
 
- Gian hữu thờ Bình thạnh bà Phạm Đăng Danh.
 
Vào năm 1888, vua Thành Thái lên ngôi, chuẩn bị vào viếng lăng nên cho trùng tu. Đến năm Khải Định 1921, trùng tu một lần nữa.
 
Ngày 2/12/1992, Bộ Văn hóa - Thông tin có quyết định công nhận Khu Lăng mộ Hoàng gia là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
 
Mộ Phạm Đăng Hưng táng trên gò cao có hình dáng mai rùa. Mộ không xây theo kiểu “ngưu phanh, mã phục” mà được xây theo kiểu dáng “đỉnh trụ” hình bát giác, trông vừa như chiếc nón lá vừa như búp sen.
 
Mặt sau mộ, xây bình phong hình bán nguyệt, trên có chạm 4 con rồng, dưới có 5 con kỳ lân. “Ngũ đại thành xương - Tường lân ống hiện” (Năm đời danh giá tốt đẹp - Điềm lành kỳ lân hiện ra).
 
Vòng quanh mộ ông Phạm Đăng Hưng có một số phù điêu trang trí như búp sen, cá hóa long… lại mang phong cách điêu khắc phương Tây. Có lẽ ông Vua Khải Định đã có một “tư vấn viên” người phương Tây nào chăng?
 
Về Gò Công thăm lăng Hoàng gia, khám phá ra nhiều điều thú vị. Dĩ nhiên chúng ta cũng chưa thể nào hiểu hết những bí ẩn lịch sử, và chắc còn nhiều điều bí ẩn trên vùng đất Nam Bộ này?

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Ngũ Hành của Dụng Thần và Kỵ Thần

http://www.phongthuyvnn.com/vn/chi-tiet-tin-tuc/153/Chon-huong-nha-theo-tuoi.aspx 
http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/20167-lop-hoc-tu-tru-so-cap-va-trung-cap-cho-tat-ca-moi-nguoi/page__st__20 

Các bước tuần tự xét tứ trụ

Có bạn hỏi tôi qua pm về những bước cụ thể khi tự xem xét tứ trụ. moclan rất hoan nghênh điều này vì qua đó ta tự biết rõ bản thân hơn để khi tiếp xúc với những bài người khác viết thì ít nhiều bớt được phần thắc mắc. Hiện thời phong trào học Tử bình đang lên cao, ai cũng nghe nói đến chữ "Tử Bình" nhiều hơn và mong muốn được giải tứ trụ cho rõ, thế nhưng moclan nhận thấy càng hỏi càng được trả lời lại càng thắc mắc. Lý do là bạn không hiểu môn học này chứ đôi khi không phải tại người giải. Tuy thế cũng có nhiều lời giải quá cao siêu hoặc quá rườm rà, rõ là cả 2 đều lâm vào thế kẹt của điều cần phải xúc tích, có nghĩa là đơn giản nhưng rõ ràng. Vì thế bạn chỉ cần ngồi lại tập trung vào chính tứ trụ của mình thì sẽ thấy mọi việc sáng tỏ hơn nhiều.
Điều kiện trước khi đi vào các phần sau đây là bạn đã phải biết sơ qua về Can, Chi, Tiết khí, Ngũ hành. Những điều này đều được ghi chép rất nhiều. Khi xét tứ trụ nên mở sẵn các chương này trước mắt, điều gì không rõ là xem lại liền. 

Phần thứ nhất: Xác định nhật chủ, vượng nhược căn bản

1. Trước hết bạn phải có Lịch Vạn Niên trong tay hoặc trình Âm Lịch mà hiện nay thường dùng là của Hồ Ngọc Đức.

2. Ngày sinh lấy theo dương lịch, không xem ngày âm lịch và chỉ tính theo tiết khí, không lấy tháng ta. Thí dụ một cháu trai sinh ngày dương lịch ghi là 1.10.2006 lúc 7 giờ sáng. Trên lịch cho thấy ngày này nằm trong tiết Bạch Lộ (còn 6 ngày nữa mới tới Hàn Lộ), vậy tháng sinh quy ra là Dậu. Trong lịch có ghi sẵn là tháng Đinh Dậu.

3. Viết bát tự ra trên giấy đầy đủ Can Chi và Can tàng trong tháng:


4. Đánh dấu ngày sinh là Quí và nhớ đây không nói gì đến "mạng Thủy" cả, mà can ngày Quí chỉ gọi Âm Thủy.

5. Nhận định về Quí Thủy là tiền đề quan trọng trước nhất, chưa cần tính các điều khác. Nhật chủ Quí âm thủy là người luôn linh động, không ngồi một chỗ vì tính chất của thủy đầu tiên là "chảy", "lưu hành" mới hợp tự nhiên. Vì thế có thể đoán người này sẽ không thích hợp với những sự việc bắt buộc anh ta ngồi lâu sau bàn giấy hoặc trói buộc một chỗ. Ngược lại cũng có thể hiểu là những nghề có liên can đến di chuyển, đi nhiều, du lịch... Về cá tính của Thủy thì cũng đã có bài ghi rồi. Các Can khác cũng tương tự mà định tính cách cơ bản của nhật chủ. Xong phần này là bạn đã có một cái nhìn nhất định về bản thân.

6. Xác định thân vượng hay nhược. Vấn đề này là hơi khó, nhưng phải trải qua, không thì không đi tiếp các nhận định sau được. Chú ý cần thiết cơ bản là:

Nhật chủ sinh trong mùa của nó: 
- Mộc sinh mùa Xuân (Giáp Ất sinh tháng Dần Mão Thìn)
- Hỏa sinh mùa Hạ (Bính Đinh sinh Tị Ngọ Mùi)
- Kim sinh mùa Thu (Canh Tân sinh Thân Dậu Tuất) và - Thủy sinh mùa Đông (Nhâm Quí sinh Hợi Tí Sửu)
thì gọi là Vượng. 

Nhưng nếu không sinh đúng mùa như vậy thì sao? Lúc đó ta tìm xem Kiêu Ấn của Nhật chủ ở đâu. 

Thí dụ trên là QUÍ âm thủy sinh trong tháng Dậu Kim. Dậu Bạch Lộ là mùa Thu. Tân Kim là Kiêu thần của Quí. Bạn biết Kim sinh Thủy, nên nói rằng QUÍ không vượng nhưng cường bởi vì được lệnh tháng sinh cho.

(Các thuật ngữ cần chú ý: 
- VƯỢNG là sáng sủa, thịnh vượng, chính danh, 
- CƯỜNG là có lực, có sức, mạnh mẽ, 
- NHƯỢC là suy, yếu, tuổi nhỏ cũng gọi là Nhược vì chưa lớn mạnh, 
- THIỂU là ít, kém cỏi. 
Có người thường hay "đếm" các can, chi, tỉ như 3 con Giáp, 2 con Dậu...v..v.. và cộng lại thành bao nhiêu Mộc, bao nhiêu Kim đấy...Không phải như vậy. Đấy là lầm Thể và Chất. Trong Dịch học, Lý số chỉ nói đến Chất (tính chất) chứ không nói đến số lượng. Vậy người có nhiều Quí, nhiều Tí Hợi chẳng hạn phải gọi là Thủy cường. Cứ tưởng tượng như ngày bão tố, sóng cao ta chỉ nói là mưa to gió lớn, chứ không ai đếm có bao nhiêu giọt nước cả.)

Trở lại thí dụ Quí nhật chủ trên. Cháu trai sinh vào mùa Thu, Kim sinh Thủy nên thể chất mạnh. Đó là điều kiện đầu tiên để xác định thân vượng hay cường, mà ta cứ gọi chung chung là Thân Vượng do có Ấn thụ trong lệnh tháng là như vậy. Tuy nhiên cũng có thể nói chung như thế được cho thêm phần đơn giản, nhưng chỉ cần nắm vững về Cường hay Vượng là được rồi.

7. Vậy nếu là thân Cường thì ta xem tiếp các quan hệ chung quanh nó với đặc điểm của Nhật Chủ Vượng. Nhắc lại:
Thuận lợiBất lợi kiểm soát được hành nó khắc chế (Tài)hành cùng loại (Tỉ, Kiếp) có hành chế bớt (Quan, Sát)hành sinh trợ cho mình quá nhiều (Kiêu, Ấn) sinh trợ cho hành theo chiều tương sinh (Thực, Thương)

Nếu Nhật Chủ Nhược thì đảo lại vị trí Thuận lợi và Bất lợi.

Bất lợiThuận lợi không kiểm soát được hành nó khắc chế (Tài)có hành cùng loại (Tỉ, Kiếp) hành khắc chế (Quan, Sát)hành sinh trợ cho mình (Kiêu, Ấn) không thể sinh trợ cho hành theo chiều tương sinh (Thực, Thương)

Mức độ khắc, sinh… còn tùy theo trường hợp. Tới đây chỉ nên hiểu rằng: Căn bản là tất cả các hành đều có mặt thì tứ trụ cân đối. 

Trở lại trụ của cháu trai ở trên, xác định được Quí nhật chủ là mạnh rồi, vậy Quí không nên có thêm nhiều Kim nhiều Thủy nữa, mà Quí rất thích có Thổ, Hỏa và Mộc để dung hòa tứ trụ. 

8. Sau đó là tính đại vận. Thí dụ trên cho phép tính từ tháng Đinh Dậu, nam nhật chủ theo năm dương (Bính Tuất) thì tính thuận, tức là ghi từ sau Đinh Dậu là đến Mậu Tuất:

2122232425262 Mậu TuấtKỉ HợiCanh TíTân SửuNhâm DầnQuí MãoGiáp Thìn KimThủyThủyThủyMộcMộcMộc

Có nghĩa là vận Mậu Tuất cháu còn được Kim trợ sinh (vì Thân Dậu Tuất là tháng mùa Thu), sang 3 vận Hợi Tí Sửu ta gọi là vận Thủy, 3 vận Dần Mão Thìn là vận Mộc. 

Có thể nói sơ để nhận định căn bản rằng cháu trai này phải vượt qua 3 vận Thủy để đạt được thành công ở vận Mộc, vì bản thân Quí Thủy của cháu cần có Thổ Hỏa Mộc như bước số 7 đã xác định.

Đấy là nhận xét có thể nói là “Thiên Khí”, là những thuận lợi hay nghịch đảo do Trời định đoạt. Phần thứ nhì ta mới xét đến Địa Chi và Nhân Nguyên là xem Trời Đất giao hòa như thế nào.
__________________
Bi-Trí-Dũng
( theo Moclan, nhantrachoc.net.vn)

Các bài viết trong cùng chuyên mục:

·                 Nhìn lông mày đoán hình dạng vợ chồng
·                 Nhìn tướng đoán giới tính thai nhi
·                 Xem tướng bộ nhũ hoa của nữ giới
·                 Ý nghĩa may rủi của nốt ruồi
·                 Nốt ruồi đào hoa của nữ giới
·                 Truyền tinh và lá số vợ chồng
·                 Tướng của phần mông và chỗ kín
Nói đến "bịnh" của trụ thì đúng là tôi đang định viết tiếp phần giải như sinh đúng mùa, có ấn thụ phù trợ mà vẫn lận đận. Cái "bịnh" nằm ở chỗ "phe kia" mạnh hơn. Thành thử người vượng cường mà như dở dở ương ương, hồi xưa người ta nói "thầy chẳng ra thầy, thợ cũng lông bông" là thế. Tiêu biểu là thời gian đang học hành thì thi cử cố gắng hết ga mới vượt qua, như tứ trụ dưới đây là nam mệnh:

NămThángNgàyGiờTàiTàiNCThươngTânTânBín hKỷkimkimhỏathổDậuMãoThânSửukimmộckim, thủy, thổthổ, thủy, kim
Bính dương hỏa gặp Tân âm kim > khuynh hướng là chuyển sang hành Thủy, suy ra Bính được lệnh tháng (sinh mùa Xuân Hỏa tướng, lại có Ấn là Mộc sinh phù) nhưng khí lực Hỏa của mình kể như bị "giam", mà Tân cũng suy vì tiết khí sinh cho Thủy (hành thiên hướng).

Kỷ âm thổ được Bính dương hỏa sinh thuận (ngày sinh giờ), nhưng Hỏa đang bị "tù" như trên nói, chưa xác quyết được điều gì. Kỷ là Thương Quan. 

Mão Dậu xung ở trụ năm và trụ tháng. Mão là Ất, là Ấn của Bính. Dậu là Tân, là chính Tài. Tài và Ấn xung là sức ép nằm ở hai diện học hành và tiền tài, nằm ở trụ tháng và năm là cha mẹ và ông bà. Cụ thể là cha mẹ rời xa quê hương sinh sống làm ăn, bản thân cũng phải xa cha mẹ học Đại học, vừa học vừa làm bồi bàn kiếm tiền, nói chung khả năng cả việc học (Ấn) và tài chánh (Tài) đều vất vả mới có.

Vì vậy nên gọi là có "bịnh" vì thân vượng chuyển sang thành "nhược", vậy kỵ thần (sự bất lợi) của thân nhược nằm ở bảng mà moclan đã kẽ ở đầu bài. 

Bính Hỏa này không khắc chế được Tài và Quan cũng không thể mạnh ở Thực. Anh ta cần gặp Bính, Đinh, Giáp, Ất, nói chung là cần Hỏa và Mộc. 

Đại vận lại đi nghịch từ Dần trở về Sửu Tí Hợi là những bất thuận lợi cho anh ta. Chỉ còn chờ gặp đúng hàng Can là thiên thời cứu hộ. Bởi vậy mới nói rằng "dở dở ương ương" ... là khi thân vượng mà hóa thành nhược là kiểu này. 

Tôi có giới thiệu cho anh ta một cô gái có tứ trụ mang nhiều mặt thuận lợi về những hành anh ta cần có, từ đấy, hai cá tính tuy có khác biệt một chút, nhưng việc học trở nên "trơn tru" hơn và năm nay đang thi ra trường. Tôi cũng đang chờ kết quả ra sao. Có gì tôi sẽ báo cho biết "bình dược phẩm" này có tác dụng thực tiễn như thế nào 
.

Thương.........
quan..............NC...................Ấn...........
Giáp ngọ ......mậu thìn ........quý tỵ .............canh thân
.......................Ất quý mậu

Vậy tứ trụ này có :
nhật chủ nhược nói lên điều gì ? 
Mậu quý hóa hợp nói lên điều gì ?
Chi ngọ không vong nói lên điều gì ?
Quan cách nói lên điều gì ? 
Khi nhật chủ nhược, thứ nhất không phải là hoàn toàn bất lực, không làm được điều gì. Cũng như thân vượng thì trở thành anh hùng cái thế hoặc vá trời đội đất. Tôi muốn nói rõ ý lại lần nữa các bạn hiểu nhé, nhận định "nhược" hay "vượng" ban đầu là để biết "sức lực" của chính mình và làm nên công nên chuyện gì trong tầm tay của mình như thế nào. Bạn thấy đó, chính là muốn nói đến không gian và thời gian sống. Cuối cùng là để tránh tối đa những nguy hiểm, những thất bại trên trường đời. Nhưng tránh được đến đâu hoặc thành công đến đâu thì dừng lại, lại là vấn đề khác. 

Dịch tức là chuyển biến, xoay vần. Không bao giờ có người nào, có sự vật gì cứ như thế mãi, đá còn phải mòn kia mà. Thành thử, khi thân mình "nhược" ban đầu lúc sinh ra đời sẽ có thể chuyển thành "vượng" theo thời gian. Nhìn tứ trụ của mình là ngày sinh tháng đẻ khi mới lọt lòng chỉ là một nhận định ban sơ. Cái quyết định là Nuôi dưỡng, Giáo Dục, Tâm Tính và VẬN, HẠN. Các bạn tự triển khai các khía cạnh này nhé vì chính đấy là cuộc đời đó thôi, không có gì xa lạ, mà ở tuổi chúng ta đều đã biết.

Vậy thì một đứa trẻ mới sinh ra đời, có thể nói nó hoàn toàn bất lực thật cho dù tứ trụ của nó là nhược hay vượng nó có cần biết đâu? Vì nó dựa vào sự nuôi dưỡng của gia đình. Nếu sự nuôi dưỡng tốt thì trẻ trưởng thành tốt, và tốt trong chừng mực thì sự tiến triển có khả năng kéo dài như thế, còn ngược lại, vì bất kỳ lý do gì thì thân có vượng ban đầu cũng gẫy đổ. Theo nghĩa của sự "huyền bí" là như thế đó. Các sự việc đều có sự giao cảm với nhau, cái mà bạn nhìn thấy kể như là mặt dương, vì nó sáng, mặt âm của nó bạn "chưa" nhìn thấy đấy thôi, nhưng nó hiện hữu đồng thời. 

moclan chỉ muốn nhấn mạnh lại những gì mình viết ra hoàn toàn là một ý kiến ban đầu nhé, đừng quá cứng ngắc vào đó. 

Trong tháng có Ấn là kể như thân vượng là như vậy. Sau này bạn sẽ hiểu Ấn không phải "bám cứng" vào trụ tháng. Và thân nhược (sinh trái mùa) mà được bẩm ấn thụ sinh cho ngay từ đầu thì vẫn sẽ thành đạt.

====
Trích:
Theo ngu kiến của em xác định được thân nhược để tìm dụng thần cho trụ. 
Xác định thân vượng thì cũng để tìm dụng thần cho trụ chứ, hay là hoason muốn nói là để tìm kị thần cho trụ?

Trích:
Mậu hợp quý chưa thể hóa hỏa được ( vì khi hóa phải dựa vào ngũ hành của lệnh tháng hoặc can tàng trong địa chi của lệnh tháng có ngũ hành giống với ngũ hành của Hóa thành "nó cứ lộn xộn và mơ hồ" trong sách TVH nói vậy, đọc mà không thảo luận nó lại quên) 
Can hợp hóa thật ra là hợp Âm Dương, đáng lý ra nó khắc thì lại hợp, bởi vì theo lý "1 âm 1 dương thành Đạo". Nên ta thấy Mậu dương thổ không khắc Quí âm thủy mà 2 bên hợp nhau thành Hỏa. 

Thế nhưng phải hiểu cả 2 mặt. Khi ta cần có HỎA thì tốt. Nhưng nếu tứ trụ cần có Mậu hoặc Quí mà 2 can này đứng gần nhau nên hợp lại, thành thử mất tác dụng của sự cần thiết đó. Nôm na là tỉ như hoason cần tiền, có một số tiền, nhưng bạn lại muốn mượn đỡ, hoason quí bạn bè nên cho mượn nên túi mình lại rỗng. Khi nào được trả lại số tiền đó thì qua luận đoán tứ trụ là trong đại vận, lưu niên, hay thậm chí ngay trong cung mệnh, thai nhi... đã có rồi. Phải tìm cho ra "số tiền cho vay" đó ở đâu, thí dụ vậy.

Lệnh tháng là chủ đạo vì từ nó tính ra đại vận, nên lệnh tháng có hành khí hóa đó thì việc "hóa thành" mới xảy ra. Có thuyết nói hễ có Chi trợ giúp, như bạn trietlokv viết, thì cũng hóa. Có thuyết nói Can thấu lộ ở những nơi khác thì cũng hóa được. moclan cũng chấp nhận các thuyết này, nhưng "lực" hóa khí phải hoàn toàn đầy đủ, như Tị Ngọ Mùi hoặc Dần Ngọ Tuất VÀ các chi này trong trụ không được có xung, có khắc, không vong... Bởi vì qua xung khắc hình hại, lực sẽ kém, điều này ai cũng rõ. Điều kiện 1 không thỏa thì điều kiện 2, 3 lại phải thật là khó.

Trích:
- Nhưng mặt khác THÂN nhược hóa mất QUAN cái khắc mình lại là tốt ?? 
Quan Sát là hành khắc ta, như Kim khắc Mộc. Mộc là nhật chủ thì Kim là Quan Sát. Nói chung thì hình tượng "khắc ta" là chỉ lực đối kháng, nhưng phải có, giống như các loại tương hành khác vậy mà. Không phải mất hành "khắc ta" là chuyện tốt. Điều này nên thật phải rõ ngay từ ban đầu. 

Thân nhược, đã nói không phải là bại xụi, yếu kém, nên đến nỗi không thể có Quan! Nên hiểu là không làm "quan to" được, "quan bé bé" thì vẫn được chứ sao. 

Trong thí dụ mà Quan bị hợp, lại thiếu Ấn, hoặc Ấn suy thì đường công danh không sáng sủa, không thuận chiều, học hành kém, sức khỏe cũng không tốt. Có khi lại như ta có cảm giác như làm không "đúng việc", không "đúng chỗ", các bà các cô mà gặp Quan bị hợp mà thêm Đào hoa kiếp là bị phụ tình, ngoại tình, bạn bè phản trắc, thí dụ vậy...

====
Trích:
- Khi luận thì Đào hoa và Quan phải ỏ cùng một trụ .??VD trụ tháng có QUAN thì ĐÀo Hoa cũng phải ỏ trụ tháng, nếu Đào hoa đóng ở trụ khác (trụ năm , ngày, giờ ) là không nghiệm phải không chị? 
không cần phải ở cùng trụ (Đào hoa tinh rất phức tạp, cần có thì giờ viết rõ, không thì lẫn lộn hết).

Trích:
- Chị ơi người nào trụ có Hoa cái mới học được tử bình ? ? 
không hẳn là vậy, đầu tiên thì hiểu là có Hoa Cái thì hơi...bị không nói nhiều! Tại sao? Vì Hoa Cái chiếu mệnh thì người rất giỏi tập trung. Hãy nhìn vào cách đặt HC là biết ngay. 
- Dần Ngọ Tuất (hỏa cục): Tuất là Hoa Cái cho những ngày sinh có Dần hay Ngọ. Tuất là Mộ Kho của hành Hỏa.
- Hợi Mão Mùi (mộc cục): ngày sinh Hợi hay Mão gặp Mùi là có Hoa Cái, vì Mùi là mộ kho của hành Mộc.
- Thân Tí Thìn (thủy cục): giống như trên, Thìn là HC cho ngày Thân hay Tí. Thìn là mộ kho của hành Thủy.
- Tị Dậu Sửu (kim cục): Sửu là mộ kho của hành Kim. Ai sinh ngày Tị hay Dậu gặp Sửu là có HC.

Có thuyết lấy cả năm sinh đặt HC, đó là vì xài luôn cả 2 lý thuyết Tử bình, trước thì lấy trọng tâm là năm, sau thì lấy trọng tâm là ngày. Cuối cùng hậu học không biết giải quyết ra sao nên lấy luôn cả trụ năm và trụ ngày mà đặt các thần sát là lý do như vậy.

Vì tính chất là "mộ", nơi quy về, tàng ẩn, không động, là nơi phải thanh tịnh, nên HC ở một vài người cho thấy sức cảm ứng với trời đất rất cao, tùy vào thiên tư mà xuất phát ra thành thần đồng âm nhạc, giáo sư, cao tăng...đủ mọi khía cạnh, vì là những người giỏi tập trung trí tuệ. Nhưng giống như tất cả các thần sát, ngũ hành...v.v.. khác, nếu gặp Không Vong, hình xung khắc hại thì mọi sự đảo ngược, hoặc lệch lạc hướng đi, có ưu tú đấy nhưng khi hành xử thì không phân minh. 

Bởi vì tính chất của Mộ là yên tĩnh, mà bị động thì mất tập trung. Nhất là trẻ em thì học hành không thông suốt ở những giai đoạn gặp HC bị khắc là vậy.

Học Tử bình cũng không cần thiết phải có Hoa Cái, đấy chỉ là một môn cần nghiên cứu sâu như mọi môn học khác. __________________
====
(theo Moclan, nhantrachoc.vn)

Phần 2: Hình xung khắc hại giữa địa chi 

Sau khi xác định cơ bản tính chất của nhật chủ và lệnh tháng không có Ấn Kiêu để sinh trợ cho thân, việc quan sát tứ trụ tiếp tục với sự quan hệ giữa các Địa Chi. Bạn nên thuộc bảng sinh, khắc, hình, hại, phá, hợp, không vong, vì sẽ phải dùng đến trong nhiều phần khác trong cung mệnh, đại vận, lưu niên.

1). Tìm xem mối quan hệ giữa các địa chi trong bốn trụ. Với thí dụ ở phần 1, ta thấy chi Dậu hại chi Tuất:



Năm|Tháng|Ngày|Giờ
Bính|Đinh|Quí|Bính
Tuất|Dậu|Hợi|Thìn
mậu, đinh, tân|tân|nhâm, giáp|mậu, quí, ất



Nhắc lại các loại Hình, Hại, Xung, Phá, Hợp đều phải đứng cạnh nhau trong tứ trụ thì mới tính. Như thí dụ trên thì Dậu không có quan hệ gì với Hợi và Thìn, mà chỉ tính Tuất Dậu thuộc loại Hại. 



2). Xem mối quan hệ lục thân của các trụ. Căn bản thì các trụ đại diện cho mối quan hệ họ hàng như sau:



Năm|Tháng|Ngày|Giờ
tổ tiên, ông bà|cha mẹ|Can: chính mình, Chi: chồng, vợ|con cái



Với thí dụ Dậu hại Tuất ở 2 cung năm và tháng, có thể cho thấy sự mâu thuẫn hay khó khăn xảy ra giữa ông bà và cha mẹ. 



3). Bây giờ là đến phần so sánh các loại hình hại xung khắc giữa tứ trụ và đại vận. Bạn phải biết cách lập đại vận là tính từ tháng. Nam sinh năm dương là dương nam, nữ sinh năm âm là âm nữ, đều tính thuận từ tháng trở đi. Ngược lại, âm nam và dương nữ phải tính ngược. Điều này không nói lên sự việc vận đi thuận là tốt và vận đi nghịch lại là xấu. Hoàn toàn phải dựa vào ngũ hành thuận lợi hay bất lợi thì mới biết là vận thuận hay nghịch vận. Nhưng ở đây ta chỉ chú trọng vào mối quan hệ giữa các Chi với nhau để có một cái nhìn tổng quát. Lại xin nhắc lại rằng không phải Khắc là luôn luôn xấu và Hợp luôn luôn tốt. Đôi khi các kị thần họp lại với nhau thì thân chủ càng thêm mệt, vì sự khắc chế nặng nề, cho dù vận đó trên thiên can xem như là thuận lợi.


Có người chỉ xem địa chi của Vận, không xem thiên can là quan trọng vì cho rằng Can là thứ yếu. Tôi xem cả hai như nhau, nhất là khi Thiên can biểu hiện lại sự xung khắc sẵn có trong tứ trụ. Thí dụ như Nhâm khắc Bính trong trụ, đến vận Nhâm thì điều khắc chế này sẽ xảy ra, cho dù địa chi mang hành dụng thần của mình. Sự khắc chế này giảm thiểu hay mất hẳn đi lại là một phần khác, xin nói rõ sau.


Trở lại tứ trụ của cháu trai và đại vận cùng mối quan hệ giữa các địa chi với nhau:



Năm|Tháng|Ngày|Giờ
Bính|Đinh|Quí|Bính
Tuất|Dậu|Hợi|Thìn
mậu, đinh, tân|tân|nhâm, giáp|mậu, quí, ất




2-11 tuổi|12-21|22-31|32-41
Mậu Tuất|Kỉ Hợi|Canh Tí|Tân Sửu


Theo bảng hình hại ta nhận thấy
-Vận Mậu Tuất: Tuất phá Dậu
-Vận Kỉ Hợi: Hợi hình Hợi
-Vận Canh Tí: Tí bán hợp với Thìn thành Thủy cục, và Tí đồng thời cũng phá Dậu
-Vận Tân Sửu: Sửu-Tuất-Thìn là 1 loại tam hình 

4). Sau đó là nhận định thêm vài khía cạnh khác thông qua lục thân. 

- Vận Kỉ Hợi hình thành loại Hình này ở trụ ngày là có liên quan đến người trong nhà. Hợi cũng là Thủy tức là Kiếp của nhật chủ Quí, thì có thể đoán sự việc xảy ra giữa mình và anh chị em hoặc bà con đang ở trong nhà mình. Trụ ngày với Chi là nói đến chồng vợ, nhưng cũng đề cập đến “nhà” tức là căn hộ mà nhiều người sống chung trong đó một thời gian lâu, không chỉ nói đến chồng hay vợ. Nhất là đại vận Kỉ Hợi này cậu bé mới chỉ 12-21 tuổi thì không nói hẳn được về người vợ. Lại nữa, khi thấy chi của trụ ngày bị hình thì cậu ta không dễ gì lấy vợ sớm khi 20 tuổi. Cũng nên tùy theo vận tuổi mà linh động xét đoán.

- Vận Canh Tí thấy có lọai Phá giữa Tí Dậu, đụng chạm với trụ tháng. Có thể đoán một sự khó khăn hay có vấn đề cãi cọ, xung khắc xảy ra giữa mình và cha mẹ, hoặc giữa mình và một người có chức vị cao hơn mình, bởi vì trụ tháng còn đại diện cho ông chủ, người cấp cao hoặc đại diện pháp luật. Đồng thời Tí bán hợp Thìn là Thủy cục, cũng có thể dễ luận đoán thân chủ sẽ có khuynh hướng ngã về các loại tứ đổ tường, thí dụ như rượu, nghiện ngập. Nếu nhẹ hơn là bị sức ép ở chỗ làm hoặc gia đình. Canh Tí vận ở giai đoạn đang làm việc và xây dựng bản thân nên nghiêng về giải đóan sinh hoạt nghề nghiệp là đúng nhất.

Những người chưa làm quen với Tử bình lâu ngày sẽ rất dễ nhớ phần hình xung khắc hại giữa các chi, vì chúng ta ai cũng thuộc Ngũ hành, 12 địa chi và 10 Can. Đấy là một thuận lợi cho bước đi ban đầu. Những phần khó hơn như thập thần, thần sát, dụng thần, kị thần… v.v… thật ra cũng xuất phát từ các sự liên hệ giữa ngũ hành và can chi. Sau khi nắm vững bảng tứ trụ và đại vận với các bước đi giản đơn như trên, sẽ không khó khăn gì khi bắt đầu học các thuật ngữ mới.
Mấy hôm nay bàn dân bị sốc vì cái chết của Michael Jackson và người ta đang tìm lại giờ sinh của ông vua nhạc Pop này. Ngẫm nghĩ cũng lạ lùng... khi chết mới ráo riết tìm lại giờ sinh ra đời cho đúng, để làm gì? Để chứng nhận cho cái chết! Tại sao phải rắc rối thế? 

Trên thế giới cùng trong ngày 25.6.2009 có biết bao nhiêu người gặp tử thần, nguyên nhân chết có đến hàng vạn lý do, ta chỉ nghe nói đến có 1 hay 2 trường hợp trong vạn trường hợp, nên khi chỉ muốn tìm một sự "chính xác một trăm phần trăm" là điều không thể làm được. Chính vì thế trong Tử Bình nên dùng lý luận chung nhất là xài, theo tôi thì hiểu rõ ngọn nghành là bất tận, nếu rơi vào việc kiếm tìm sự hoàn mỹ là không bao giờ đến. 

Trong ngày 25 có thêm một cái chết của Farrah Fawcett, nữ diễn viên đóng phim nổi tiếng "Thiên thần của Charlie", thử tìm xem sự giống nhau của 2 tứ trụ này là biết cái điều chung nhất nằm ở đâu.

Theo nhiều thông tin, thí dụ như tạm chấp nhận 2 tứ trụ sau đây là của M.Jackson và F.Fawcett:

Michael: 29.8.1958, 12 giờ 44 phút tại Indiana
Farrah: 2.2.1947, 15 giờ 10 phút tại Texas

Họ cùng là người nổi tiếng, cùng có nguyên nhân chết là do bịnh tình, trực tiếp hay gián tiếp qua thuốc men. Khi đến vận hạn cực xấu như vậy, hãy nhìn lại đại vận, lưu niên và các Chi trong trụ, chưa nói đến dụng hay kị thần. 

Đại vận của Michael: Ất Sửu, Farrah: Ất Mùi, lưu niên: Kỷ Sửu

Bạn có nhớ hạn tam hình của công nương Diana cũng là Sửu Tuất Mùi? Vậy nhìn chung là hạn Thổ có thể gây vấn đề lớn. Nhưng gây vấn đề cho ai? Hành nào? Hãy xem lại vòng tương sinh, tương khắc, hình hại...

1. Thổ do Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ cháy khét, hoặc ngược lại, Thổ nhiều thì Hỏa vào đường cùng không phát triển thêm được.
2. Thổ sinh Kim, nhưng Kim nhiều thì Thổ biến dạng
3. Thổ đi khắc Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ trôi giạt
4. Thổ mà đang suy lại gặp Mộc thì bị hãm hại

Trong trụ của M.Jackson, so các Chi của 6 trụ lại với nhau thì thấy:

Năm|Tháng|Ngày|Giờ|Đại vận|2009
Mậu|Canh|Mậu|Mậu|Ất|Kỷ
Tuất|Thân|Dần|Ngọ|Sửu|Sửu

Dần Ngọ Tuất = Hỏa cục; Ất Canh = Kim là 2 chốt của vấn đề. Hai Sửu đến phá tan Hỏa cục, vì Sửu và Tuất thuộc tam hình Thổ. Mà Hỏa chính là Ấn (sức khỏe) của nhật chủ Thổ. 

Ất Mộc gặp Canh Kim thì Ất theo Canh hóa thành Kim, cũng hiểu là nếu Ất là dụng hay hĩ thần là bị Canh hóa mất, hoặc ngược lại, nếu Canh là dụng hĩ thần thì rơi vào trường hợp 2 (Thổ sinh Kim, nhưng Kim quá mạnh thì Thổ biến dạng, như đất khác quặng mỏ là vậy).

Còn vài chi tiết nhận xét khác, như Ất gặp Kỷ là Can xung khắc nhau (âm mộc khắc âm thổ, âm khắc âm rất nặng)

Nhìn chung thì Mậu, Kỷ khá nhiều; Thổ nhiều thì khắc ngược lại Hỏa như điểm 1.

Trụ của Farrah? Các bạn thử phân tích trước để rõ.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Mật pháp cầu quý nhân phù hộ cho được phát tài

Mật pháp cầu quý nhân phù hộ cho được phát tài .

MẬT PHÁP CẦU QUÝ NHÂN
PHÙ HỘ CHO ĐƯỢC PHÁT TÀI .
求貴人得偏財密法
“Tài” và “Phúc” cả hai đều vượng, không thương hại lẫn nhau: Tài là gốc, phúc là nguồn, công tư đều có thể cầu, cầu thì sẽ được.
Phúc thần sinh tài như nước có nguồn: Tử tôn hào chính là nguyên thần của việc dự đoán tài. Nếu Tử tôn hào vượng tướng thì tất sẽ sinh tài, hợp tài, như nước có nguồn, miên man không ngừng, cuồn cuộn chảy tới.
Đi đến tiệm thuốc Bắc , mua một số ít Quế Chi và phấn bột Trân Châu 桂枝和珍珠粉, và chuẩn bị các món sau đây :
- Hai bao lỳ xì đỏ hay bao vải đỏ . Bên ngoài có viết sẳn tên tuổi , địa chỉ và mục đích của buổi cầu xin là gì của người cầu xin tài lộc .
- Một gối thuốc hút loại thơm hay gì
củng được.
- Một ít rượu trắng.
- Phẩm vật cúng Tam sanh ( Heo , Gà , Cá luộc tái ) hay bánh trái củng được .
- Giấy Tiền  Vàng Bạc Âm Phủ .
- Sáu cây nhang thơm .
- Hai cây đèn cầy đỏ .

Sau đó mang các lể vật đi đến Đại Chúng Gia Miếu 大眾爺廟 ( Tức các đình miếu của Thần Thánh Đạo Gia hay các Thần Thánh Việt Nam …) .
Sau khi bày các lể vật ra mâm đặt trên bàn trước Thần Linh , Người cầu xin tài lộc đốt ba cây nhang cắm vào lư hương và hai cây đèn cầy hai bên , kế đến cầm ba điếu thuốc thơm đốt lên , người cầu xin không được hút điếu thuốc nầy , mà sau khi đốt , dùng ngón tay vổ nhẹ vào đầu lọc đuôi của điếu thuốc , sẻ làm cho điếu thuốc sẻ cháy sáng lên ; kế đến tuần tự cắm các điếu thuốc nầy lên đầu ba cây nhang thơm chưa đốt còn lại và cắm ba cây nhang nầy lên lư hương để cúng dường Đại Chúng Gia .

Kế đến trước mặt Đại Chúng Gia , người cầu xin lấy Quế Chi và phấn bột Trân Châu chia đều làm hai phần bỏ vào hai bao lỳ xì đỏ hay hai bọc vải đỏ và buột chặt lại .Kế đến chấp hai tay lại và cầu xin Đại Gia hiển hóa Âm Quý nhân phù hộ giúp đở cho tôi ( Nói lên mục đích cầu nguyện của mình để Thần linh giúp đở …) Thí dụ : Giúp tôi diệt trừ tiểu nhân , vạn sự đại lợi , tài vận hanh thông , Tiền vô ào ào .............Sau khi mọi sự thành công , tôi nhất định sẻ đến để bái tạ công đức của Thần Linh .
Tiếp đến , trước mặt thần linh , người cầu xin tiến hành xin keo , cần phải liên tục ba lần xin được ba keo tốt , thì được xem như đã được Đại Gia Sư đồng ý phù hộ giúp đở người xin được tài lộc như ý ....
Tiếp theo người cầu xin tay trái cầm hai bao đỏ lên và vòng ba vòng theo chiều kim đồng hồ , trên đầu các cây nhang trong lư hương , kế đến mới đốt vàng bạc , đến đây thì lể cầu tài lộc được xem như đả hoàn tất .
Người cầu tài lấy một bao đỏ đeo theo bên mình , còn bao kia về nhà để trong tủ đựng tiền của mình .
Khi ý nguyện cầu xin tài lộc của mình đả được thành công như ý , thì người cầu tài cần lại Miểu Đại Gia Sư một lần nửa để làm lể tạ ơn Thần Thánh .


Phân tích huyền cơ của
MẬT PHÁP CẦU QUÝ NHÂN PHÙ HỘ CHO ĐƯỢC PHÁT TÀI .

Trong vũ trụ có nhiều trường lực tâm linh tồn tại từ ngàn xưa của những bậc Anh Hùng Thánh Nhân , Cao Nhân đắc đạo và các cấp Quỷ Thần ............những trường lực tâm linh nầy được biểu tượng hóa và nhân hình hóa , độc lập qua các tượng Thần Thánh và Thánh Danh của các vị nầy ........trong các đình miếu hay các Đền Chùa trong dân gian .
Vì có sự liên hệ vô hình giửa các trường lực nầy với phần tâm linh sâu thẩm của mổi cá nhân và nhân loại .....thông qua các nghi thức cầu xin , phẩm vật cúng bái và lòng thành của người cầu tài lộc , nếu hội đủ các điều kiện tâm linh , đúng theo sự sắp xếp cố ý của tổ sư từ ngàn xưa truyền lại ........thì có thể tạo nên một vòng kết nối tâm linh vô hình , giửa những trường lực nầy hợp tác lại với nhau , thành một hệ thống , và những trường lực tâm linh siêu hình nầy , sẻ điều động các trường lực tâm linh khác, kết hợp với các trường lực tâm linh sâu thẩm bên trong của các cá nhân trong xả hội , tạo thành một cơ duyên khách quan , xuyên qua đó , các cá nhân trong xả hội tự nhiên nhi nhiên hành động một cách khách quan , dưới sự thúc đẩy của phần tâm linh sâu thẩm bên trong của họ , hành động theo sự kết hợp của vòng tâm linh vô hình như trên , để gián tiếp tạo cơ duyên hay mang tài lộc lại cho người cầu xin một các vô vi vậy ..............

Bài biên soạn trên chỉ có tích cách tìm hiểu và tham khảo về huyền học Đông Phương . Mọi sự thực hành cần phải có sự cố vấn của Minh Sư hay Chuyên Gia Tâm Linh hướng dẩn .........

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Quy Trình Tư Vấn Phong Thủy



Quy Trình Tư Vấn Phong Thủy THÀNH THÁI HOUSE

Các bước mà Trung tâm Nguyên Cứu Lý Học THÀNH THÁI HOUSE
sẽ thực hiện khi khách hàng ký hợp đồng Tư Vấn Phong Thủy. Khách hàng nên xem qua để có cái nhìn toàn diện về Phong Thủy .1. Lấy thông tin các thông tin liên quan theo tiêu chí của khoa Phong Thủy Lạc Việt, gồm:(Bảng chi tiết thông tin):
Mệnh cung, hướng tiêu thủy, mạch khí, phân cung, điểm hướng cuộc đất và hướng nhà.
2. Xem và chọn đất cho khách hàng (Nếu khách hàng chưa có đất).
Bao gồm:
- Xem hướng đất
- Cảnh quan môi trường xung quanh
- Vận Huyền không Lạc Việt
- Khí trong phong thuỷ

3. Các bước thiết kế (thời gian khoảng 5-10 ngày làm việc).
3.1. Đến hiện trường đo hướng nhà và kích thước mảnh đất (Nếu đã tư vấn chọn đất thì bỏ qua bước này)




3.2. Thiết kế theo Phong thuỷ Phong Thủy Lạc Việt (Hồ sơ chi tiết đính kèm) gồm (Phối hợp với KTS của gia chủ)
- Thiết kế theo Bát trạch Lạc Việt
- Thiết kế theo Cấu Trúc Hình Thể Lạc Việt
- Thiết kế theo Hình Lý Khí Lạc Việt 
- Thiết kế theo Huyền Không Lạc Vệt
- Trấn Yểm Lạc Việt
Tức là bố trí cấu trúc bên trong nhà cho phù hợp với tuổi gia chủ, phù hợp với cảnh quan ngoài nhà, phù hợp với vận Huyền Không Lạc Việt và cấu trúc hình thể Lạc Việt (gồm vị trí giường ngủ, ban thờ, bàn học, bàn làm việc và các vật dụng trong nhà, cửa…)

Dưới đây là mẫu sơ đồ sẽ giao cho khách hàng (Lưu ý: Hình chỉ mang tính chất minh họa).

Sơ đồ nhà tổng thể nhìn chung

Sơ đồ nhà phân theo Bát Trạch Lạc Việt
Sơ đồ nhà phân theo Bát Sát Hoàng Tuyền Lạc Việt
Sơ đồ nhà phân theo Huyệt Khí Bảo Châu
Sơ đồ nhà phân theo Phi Tinh Huyền Không Lạc Việt
3.3. Thiết kế kiến trúc xây dựng và nội, ngoại  thất (Danh mục hồ sơ xem trong Bản Báo giá)
Trong trường hợp khách hành có nhu cầu thiết kế kiến trúc, kết cấu và nội, ngoại thất. Chúng tôi sẽ thiết kế một bộ hồ sơ thiết kế xây dựng hoàn chỉnh theo phong thuỷ. Bao gồm mặt bằng, mặt cắt, mặt dựng và 3D.
Mặt bằng 2D
Mặt bằng 3D
Phòng Giám Đốc
Phòng Phó Giám Đốc
Phòng Phó Giám Đốc và Phòng Giám Đốc
4. Giám sát quá trình thi công.
- Sau khi khách hàng triển khai thi công chúng tôi sẽ cử tư vấn viên xuống kiểm tra và tư vấn các vấn đề về phong thuỷ ở các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1. Sau khi hoàn thành phần thô (Chưa tô trát)
- Giai đoạn 2: Khi hoàn thiện nhà
5. Theo dõi và hiệu chỉnh những sai sót.
- Đối với những bộ hồ sơ thiết kế mới, chúng tôi sẽ tiếp tục liên lạc với khách hàng sau khi thi công hoàn thành công trình để biết được sự phát triển tài lộc của quý vị sau khi ở nhà mới hoặc văn phòng kinh doanh mới nhằm cùng với quý vị phát hiện những sai sót (nếu có) về  phong thuỷ do vấn đề bố trí nội thất gây ra hoặc do cảnh quan môi trường thay đổi.
Đối với khách hàng đến với chúng tôi sẽ được tư vấn miễn phí (qua điện thoại)  bố trí các vận dụng trong nhà, xem ngày tốt xấu, kích thước Lỗ ban hiệu chỉnh theo khoa học hiện đại (Thước Phong thuỷ Lạc Việt).
Lưu ý: Mọi chi phí đi lại do thân chủ trả!

THÀNH THÁI HOUSE (Nguồn Internet)

Mọi chi tiết xin liên hệ:


Địa chỉ: 28 Hàn Thuyên - Bình Thọ - Thủ Đức - Tp.HCM
Điện thoại: 090940.1368 - 801236.401368A.Thái

Sự Nghiệp : Bí Quyết Nhỏ Nhanh Chóng Thăng Chức

Đợi mãi không được, không được sếp coi trọng, suốt này vất vả mà đến lúc công lao lại vào tay người khác ! Chắc chắn trong lòng bạn đang muốn gào lên “Sếp ơi, sao mà ông không nhìn đến tôi thế !?”. Nếu thật sự bạn rơi vào hoàn cảnh như vậy Chuyên Gia Phong Thủy xin khuyên bạn mấy chiêu như sau:

Xoa Đầu Sư Tử Đá:Ở nơi cổng chùa miếu thường có cặp Sư Tử đá đặt phía trước, ở đó nó thu được Tinh Hoa Nhật Nguyệt Tinh Thần, nó có thể cho chúng ta vận thế tốt, nếu chúng ta bị vào hoàn cảnh nói trên hãy đến cũng bái ở chùa miếu rồi dùng tay xoa đỉnh đầu Sư Tử, rồi lại tự xoa đỉnh đầu mình, làm cho khí vận của mình có thể thay đổi.

Xoa Bóng Trán Của Bạn:
Trán của mỗi người là Cung Quan Lộc theo Nhân Tướng Học, đại biểu cho phát huy sự nghiệp và vận thế thăng chức, nếu như chẳng phải là người có được nhận chức vụ lớn thì khí sắc nơi đó u ám, phương pháp giải quyết là dùng một loại kem dưỡng da làm cho vầng trán của bạn luôn tươi sáng.

Bài Trí “Bảo Tháp”:
Chố vị trí cao trong nhà như tủ rượu, tủ sách, bày chỗ đó một cái Bảo Tháp bằng đồng, nên đặt càng cao càng tốt. Bởi vì như vậy là biểu trứng cho bạn bộ bộ cao thắng, mỗi bước lại tiến cao hơn.

Dùng Gà Trống Làm Đồ Trang Sức:
Trang sức hình con gà trống, đặc biệt là gà trống có mào lớn, không kể bằng chất liệu gì, đều có công hiệu trợ giúp cho quan trường, làm cho người ta có thể tại vị lâu hơn, thay đổi thì được coi trọng hơn. Nó cũng hợp với một trong các hướng Tây Bắc, Chính Bắc, Đông Bắc, Chính Nam.

Tiểu Hoàng Đăng Soi Tỏ Đường Quan Lộ:
Không luận là phòng khách, phòng lớn hay phòng làm việc, nên thường giữ một ngọn đèn nhỏ màu vàng chiếu sáng thường xuyên, nó làm cho khí thế trở lên mạnh mẽ, lưu thông, tăng gia vận tốt, nó lại còn có thể mở rộng hạn chế của cách cục. Nó rất hợp với các vị trí Tây Bắc, Đông Bắc, Chính Nam. Nguồn phát ánh sáng tốt nhất là dùng 7 viên bảo thạch có chất liệu khác nhau, màu sác khác nhau ví dụ như: Pha Lê, Mã Não, Đá Quý, cho tất cả vào một đĩa bằng chất liệu gì cũng được, đặt bên tay trái của bàn làm việc, giúp cho công việc của mình thuận lợi.

Tìm Một “Kháo Sơn”:
Chỗ phòng làm việc phía sau nhất định phải có một bức tường, cái tủ bình phong làm chỗ dựa, nếu không tất luôn có cảm giác trống trải, làm cho công tác không yên ổn, đó chính là do không có chỗ “Tựa” để hỗ trợ.
Lấy một chuỗi đồng tiền đồng cổ đặt bên tay trái của bàn làm việc. 66 đồng biểu thị “Thuận Thuận”, 88 đồng biểu thị “Phát Phát”, 168 đồng biểu thị “Nhất Lộ Phát”.
Thần kỳ nhất là Thủy Sương Động, Tử Thủy Sương Động là những đồ dùng hay sử dụng trong Phong Thủy, bởi vì nó là động huyệt có chỗ lõm vào, có thể hàm dưỡng hảo vận, nếu có thể bày bân tay trái bàn làm việc, nó sẽ hỗ trợ cho bạn. Nhớ tuyệt đối không cho thủy sương động vào nước.

QUÁN VEN ĐƯỜNG Link hay

 http://thegioisachnoi.com/
http://thegioisacdep.vn/suc-khoe-21.html#.UcmA1JFYQkA 
http://anh0028.blogspot.com/2013/04/mat-tong-phat-mau-chuan-e-0-comments-17_8.html

http://www.phununet.com/wikiphununet/Wiki_PhanMuc_ChiTiet.aspx?m=0&PhanMucWikiID=46
http://www.phununet.com/SearchPNN.aspx?q=m%C3%A3ng%20c%E1%BA%A7u  http://me.zing.vn/jpt/myalbum/vanhoaibee 
Hình văn hoai HKLS
http://thuvienrevit.blogspot.com/ 

http://sites.google.com/site/quanvenduong2/Home
https://sites.google.com/site/dangquangdiem/home/ky-nang-viet-tieng-anh
http://s251.beta.photobucket.com/user/vanhoai100/library/?albumview=slideshow 
http://linhnghiem.vn/category/phong-thuy/
http://www.phongthuy.net.vn
http://thietkenhadep.vn
http://www.tracuuphongthuy.com/ 
http://thatdocdao.com/table/tu-van-qua-tang/ 
http://translate.google.com.vn/translate?hl=en&sl=en&tl=vi&u=http%3A%2F%2Fwww.fengshui-import.com%2Fblog%2Ftag%2Fflying-stars-2013%2F 
http://buy-fengshui.com/articles-flying-star-feng-shui-2016.php 

http://www.fengshuitoday.com/feng-shui-update-for-the-year-of-the-fire-monkey/

http://ue.vnweblogs.com/ (Diễn đàn tâm linh khí công)
http://nhatduat.blogspot.com/ 
http://xemtuong.net/KHHB/tubinh/index.php 
http://art.rolo.vn/a/tuvi/29-8-1980-nam-2013/ 
http://michaelnam-diary.webs.com/ 
http://tuongso.info/aspx/
http://techblogviet.com/3898/share-key-4videosoft-mp4-converter-phan-mem-chuyen-doi-video-sang-dinh-dang-mp4.html 
http://dialyvatuvithienco.com/home.asp
http://quangminhkhiphap.com/
http://hocphongthuy6868.blogspot.com 
http://tuvi.asia/ (Tìm thân vượng, nhược)
http://vietbao1623.blogspot.com/2012/03/nhung-bi-quyet-giai-oan-ai-van.html 
http://xemtuong.net/quicoctoanmenh/index.htm 
https://sites.google.com/site/dayhocdientu/homepage/7th-grade-german-culture-project/phanmemquanlithietbidayhoc
http://khamphahuyenhoc.blogspot.com/ 
http://trachnhat.7hostfree.com/trachnhat.aspx  
http://lichdaiquai.7hostfree.com/lichdaiquai.htm 
(phần mềm tính trạch nhật đại quái)
http://bhnlienhoa075.blogspot.com/2012_05_01_archive.html
http://thodangtamthao.blogspot.com/p/03-chon-ly-of-truth.html
http://phongthuytrachbang.blogspot.com/
http://www.vovi.org  (Tự cứu Theo Phật)
http://rbomtm.blogspot.com/ 
http://dienbatnblog.blogspot.com/  (PT mien bac)
http://magnetic-declination.com/ (đo độ từ thiên)
http://www.fengshuiheritage.com/archives/category/feng-shui-tips/ 
pthuy
http://translate.googleusercontent.com/translate_c?depth=1&hl=en&rurl=translate.google.com.vn&sl=en&tl=vi&u=http://www.masteryacademy.com/estore/eHomestudy.asp&usg=ALkJrhiJGPwOt83p5YRdUl-GxVTI5vHXGw 
http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/30517-phong-thuy-xem-bang-hinh/  (Loan đầu)
http://www.phongthuyhuyenkhong.vn/2013/06/phong-thuy-nha-o-huong-tay-nam-tot-hay-xau.html 
http://xn--bcs-ela6369a.blogspot.com/  (Hóa giải PT)
http://www.hocphongthuy.edu.vn/tag/xem-phong-th%E1%BB%A7y/ 

Phương pháp sử dụng la bàn chính xác theo Phong Thủy Học

Các bước đầu tiên trong thực hành phong thủy theo phái Bát trạch là phải xác định chính xác hướng nhà và hướng cửa chính.
Việc xác định hướng nhà và hướng cửa chính đóng vai trò quyết định trong lựa chọn các biện pháp phong thủy phù hợp cho một ngôi nhà.
Quan sát vị trí mặt trời mọc hoặc lặn để xác định hướng là không đủ chính xác. Các nhà phong thủy thường xác định phương hướng bằng một dụng cụ đặc biệt là phong thủy (). Dụng cụ này hết sức phức tạp, chỉ các chuyên gia mới có thể sử dụng. Tuy nhiên, khi áp dụng phong thủy theo lối hiện đại, bạn chỉ cần dùng những chiếc la bàn đơn giản là được.

Chọn la bàn

Cần chọn những chiếc la bàn có chia độ rõ ràng. Có thể tìm mua những chiếc la bàn này ở các cửa hàng văn phòng phẩm, gian hàng bán dụng cụ cắm trại…
144 Cách sử dụng la bàn chính xác theo Phong Thủy Học
Nên chọn loại được gắn trên một chiếc thước nhựa, mũi tên in trên thước sẽ giúp bạn định hướng dễ dàng hơn.

Các bước thực hành đo hướng nhà

- Để tránh tác động của từ trường lên chiều quay của kim la bàn, khi đo hướng nhà, đừng đứng gần các thiết bị điện, ô tô.
- Tháo bỏ tất cả đồ dùng kim loại trên người (điện thoại di động, dây chuyền, đồng hồ, nhẫn, thắt lưng có kim loại…).
- Đứng quay lưng về ngôi nhà, đứng cách ngôi nhà chừng 1m -1,5 m.
145 Cách sử dụng la bàn chính xác theo Phong Thủy Học
Cách đo la bàn.

- Hai chân dang nhẹ cho vững vàng. Đặt la bàn trong lòng bàn tay, ngang tầm hông, mũi tên in trên tấm thước nhựa hướng thẳng về phía trước.
- Xoay la bàn cho tới khi mũi kim tô màu (màu đỏ ở hình bên trái và màu xanh ở hình bên phải) trùng khít với hướng bắc (chữ N trên la bàn).
- Đọc con số ghi trên vòng ngoài của la bàn, nằm trên cùng đường thẳng với mũi tên trên thước nhựa.
143 Cách sử dụng la bàn chính xác theo Phong Thủy Học
Trong hình vẽ này, ta đọc 200 độ, hướng Nam.

- Lặp lại điều này ba lần như trong hình vẽ ở trên (dịch sang trái sang phải một chút nhưng vẫn giữ nguyên khoảng cách tới ngôi nhà). Nếu có sự khác biệt giữa các số đo thì tính trung bình cộng của 3 giá trị trên. Ví dụ: (200 + 196+ 202): 3 = 199 độ (hướng Nam). Nếu có sai số lớn hơn 15 độ trong 3 lần đo, bạn đang chịu ảnh hưởng của các thiết bị điện hoặc kim loại, ví dụ đang đứng gần hệ thống đường ống nào đó. Hãy thay đổi vị trí và đo lại.

Xác định hướng nhà theo độ đo của la bàn

Hãy tra số đo bạn đọc được trên la bàn với bảng sau để biết hướng nhà:
1Bắc337,5- 22,5
2Đông bắc22,5- 67,5
3Đông67,5-112,5
4Đông Nam112,5- 157,5
5Nam157,5- 202,5
6Tây Nam202,5- 247,5
7Tây247,5- 292,5
8Tây Bắc292,5-337,5

Bạn cũng có thể học cách chuyển từ số đo thành hướng mà không cần đến bảng trên. Hãy hình dung toàn bộ la bàn như một vòng tròn 360 độ, khi đó, 8 hướng chiếm những phần bằng nhau và bằng 360 độ: 8 = 45 độ.
148 Cách sử dụng la bàn chính xác theo Phong Thủy Học
Khi kim chỉ 90 độ, ta nói đó là hướng chính Đông (E). Toàn bộ hướng Đông sẽ trải từ 67,5 đến 112,5 độ (22,5 độ về bên trái và 22,5 độ về bên phải mốc 90 độ). Tương tự như vậy, 0 độ tương ứng với hướng chính Bắc (N), toàn bộ hướng Bắc trải từ 337,5 đến 22,5 độ.135 độ tương ứng với Đông Nam, toàn bộ hướng Đông Nam trải từ 112,5 đến 157,5 độ…
La bàn phong thủy hiện đại chia rõ ranh giới 8 hướng.

Các ký hiệu trên la bàn:

NBắc
NEĐông Bắc
EĐông
NWTây Bắc
SNam
SEĐông Nam
WTây
SWTây Nam

Đo hướng cửa chính

Việc đo hướng cửa chính cũng được thực hiện theo nguyên tắc trên, chỉ khác là bạn cần đứng ở giữa cửa ra vào của ngôi nhà (quay lưng vào trong, mặt hướng ra ngoài). Nếu nhà bạn có một vài cửa ra vào thì chọn cửa mà cả gia đình sử dụng thường xuyên nhất để đo.
Tiến lên một bước về phía trước, đo lần 2. Lùi về phía sau một bước, đo lần 3. Nếu có sai số thì tiến hành lấy trung bình cộng của 3 số đo. Nếu có sai số lớn thì chú ý ảnh hưởng của đồ điện hoặc kim loại quanh đó.

Đối với các khu cao tầng:

Từ tầng 1 đến tầng 5: Hướng của căn hộ trùng với hướng của toàn bộ tòa nhà. – Từ tầng 6 trở lên: Do không còn chịu ảnh hưởng của đất nên hướng của căn hộ không phụ thuộc vào hướng tòa nhà. Lúc này, hướng căn hộ chính là hướng cho bạn tầm nhìn rộng nhất (thường đó là phía có cửa kính rộng, nơi cung cấp nguồn dương khí chính cho ngôi nhà của bạn).